Mối quan hệ giữa kỹ thuật và nghệ thuật nhiếp ảnh

Thứ hai - 26/11/2018 05:33
Nhiếp ảnh, một bộ môn nghệ thuật tạo hình độc đáo, nó phản ánh hiện thực khách quan một cách trung thực, ghi lại những khoảnh khắc có sức biểu hiện cao nhất trong dòng thác sự kiện. Nhà lý luận phê bình nhiếp ảnh Béctôn Bailơ từng nói: “Sức mạnh của nghệ thuật nhiếp ảnh chính là sức mạnh của giây phút bấm máy”.
Mối quan hệ giữa kỹ thuật và nghệ thuật nhiếp ảnh

Tuy vậy trong buổi bình minh của mình, nhiếp ảnh vốn là một phát minh kỹ thuật thuần tuý, bắt nguồn từ kiến thức khoa học tự nhiên như quang học, hóa học, cơ khí... Ngay cả khi Viện sĩ Arago, Viện Hàn lâm khoa học Pháp, công bố phương pháp làm ảnh Daguèrre vào ngày 19/8/1839, nhiếp ảnh cũng chỉ la fmột phương tiện ghi lại hình ảnh tự nhiên, con người và cuộc sống bằng các quá trình phản ứng hóa, lý trên cơ sở tác dụng của ánh sáng lên các muối bạc.

Những bức ảnh đầu tiên của nhân loại do Joseph Nicephore Niepce ghi nhớ bức “Nhìn từ cửa sổ phòng làm việc ở le Gras”; bức “Chiếc bàn ăn”... hay bức ảnh của Louis Jacque Daguèrre “Nhìn về đại lộ Nhà thờ” hoặc tác phẩm của William Henry Foa Talbot “Lacock Abbey”... hiện còn lưu giữ ở các bảo tàng nghệ thuật của các nước Pháp, Anh, Mỹ... đều là thành tựu của những quá trình thao tác kỹ thuật.

Tất nhiên người ta không thể không thừa nhận giá trị tài liệu cũng như giá trị thẩm mỹ của những bức ảnh đầu tiên đó của nhân loại. Vốn sự phát triển của khoa học kỹ thuật, kỹ thuật nhiếp ảnh ngày càng thu được nhiều thành tựu rực rỡ. Trên cơ sở đó nhiếp ảnh càng có khả năng diễn đạt ngày càng tinh tế, thể hiện rõ tính nghệ thuật cao, có sức thu hút người xem. Điều này cho thấy giữa kỹ thuật và nghệ thuật trong nhiếp ảnh có mối quan hệ khăng khít. Do đó, đối với bộ môn nhiếp ảnh kỹ thuật và nghệ thuật là hai mặt của một thể thống nhất, là mối quan hệ tương hỗ. Vì vậy, mỗi khi đánh giá một tác phẩm không thể không quan tâm đến mối quan hệ hữu cơ đó. Nói cách khác giá trị của một tác phẩm ảnh thể hiện ở cả hai yếu tố: kỹ thuật và nghệ thuật.

Như chúng ta đã biết, đến nay nhiếp ảnh mới trải qua hơn 160 năm, còn rất non trẻ so với các ngành nghệ thuật khác như hội họa, sân khấu, âm nhạc..., nhưng với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ thuật, đã làm cho nghệ thuật nhiếp ảnh phát triển nhanh.

Từ buổi sơ khai, Niepce chụp bức ảnh “Nhìn từ cửa sổ phòng làm việc ở le Gras”, mất 8 giờ, đến nay tốc độ chụp nhanh tới 1/1000 giây là chuyện bình thường, từ hộp tới lỗ nhỏ (camera abscura), nay đã có máy kỹ thuật số (Digital). Mọi thông số do máy móc đảm nhận, con người chỉ còn một động tác duy nhất là bấm máy. Nhưng cũng do yếu tố kỹ thuật đóng vai trò quan trọng, mặt khác người ta chưa hiểu tường tận mối quan hệ giữa nghệ thuật và kỹ thuật trong nhiếp ảnh, đồng thời họ quá thiên về kỹ thuật, nên đã vội vàng kết luận nhiếp ảnh là sao chép, là công việc của máy móc, là “cái gương phản chiếu tự nhiên” không hơn không kém. Họ không thừa nhận nhiếp ảnh là nghệ thuật. Họ còn đem so sánh nhiếp ảnh với hội họa cũng giống như “người chơi nhạc rong đối với Mozart và Beethoven”. Bởi họ cho rằng bức tranh được hình thành từ tư duy của cái đầu và được qua bàn tay khéo léo của nhà họa sĩ. Còn bức ảnh là kết quả của máy móc, cơ khí, điện tử, quang học, ứng hóa học. Từ những nhận định phiến diện đó họ đi đến kết luận: “Nhiếp ảnh là sự sao chép lại thế giới hiện thực bằng máy móc, rằng nhiếp ảnh mô tả đối tượng một cách thụ động, còn nghệ thuật là sự tái tạo hiện thực khách quan một cách chủ động sáng tạo. Đặc biệt họ cho rằng, nhiếp ảnh bị hạn chế chỉ có thể ghi lại những gì đối tượng có, còn nghệ thuật vừa miêu tả đối tượng vừa biểu lộ nhân sinh quan, cái “tôi” của nhà nghệ sĩ đối với đối tượng đó. Mặt khác giá trị của bức ảnh được xác định ở nội dung, cái mà máy ảnh ghi lại, còn mô tả như thế noà chỉ có ý nghĩa về mặt khéo léo sử dụng kỹ thuật đơn thuần, còn tác phẩm nghệ thuật không chỉ được xác định thông qua cái mà nó mô tả mà còn căn cứ vào cái nó mô tả và hình tượng xây dựng nên trong khi phản ánh hiện thực.

Rõ ràng đây là một sự đánh giá thiển cận thiên lệch. Họ không hiểu rằng máy móc đối với nhà nhiếp ảnh cũng như chiếc bút lông đối với họa sĩ. Thật vậy, thành công của một bức hoạ là bắt nguồn từ tư duy sáng tạo của họa sĩ, chiếc bút lông, cũng như phẩm mầu... chỉ là phương tiện cần thiết cho nhà nghệ sĩ hoàn thành mỹ mãn tác phẩm. Cũng như vậy, thành công của một bức ảnh, trước hết phụ thuộc vào ý đồ nghệ thuật, tư tưởng của nhà sáng tác, còn chiếc máy ảnh, phim giấy ảnh... chỉ là phương tiện không thể thiếu trong quá trình sáng tạo ra tác phẩm. Tất nhiên nhiếp ảnh là “nghệ thuật của khoảnh khắc”, nhưng yếu tố ngẫu nhiên nhiều  khi đóng vai trò khá quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định đưa tác phẩm đến đỉnh vinh quang. Nhưng cũng có những sự kiện, những yếu tố ngẫu nhiên xẩy ra, nếu khả năng nhạy bén, ý tưởng nghệ thuật không rõ ràng, cảm xúc thẩm mỹ không cao, mặc dầu máy móc cực kỳ hiện đại, kinh nghiệm, tay nghề cao, vẫn rất có thể đêm đến thất bại cho tac phẩm. Như vậy, thành công của tác phẩm chính là tư tưởng của tác phẩm chủ yếu phụ thuộc vào cái đầu của nhà nghệ sĩ, máy móc, kỹ thuật chỉ là phương tiện cần thiết. Thực tiễn cho thấy, nhiều tác phẩm ghi được những giây phút tình cờ là những bức ảnh sống động có sức cuốn hút người xem, đều bắt nguồn từ khả năng tư duy và năng lực làm chủ phương tịen kỹ thuật một cách linh hoạt. Song cũng phải thừa nhận rằng đứng trước một sự kiện nóng bỏng xẩy ra, nhà nghệ sĩ tuy có tư tưởng nghệ thuật rõ ràng, cảm xúc tinh tế, nhưng máy móc quá lạc hậu, thiễu kỹ năng làm chủ kỹ thuật, rất khó lòng bắt được pha ảnh tự nhiên có giá trị nghệ thuật cao. Tuy nhiên không loại trừ hiện tượng, có những bức ảnh được đánh giá cao, mà tác giả của nó chưa hề ai biết trước đó. Đương nhiên sau giây phút vinh quang ấy, công chúng sẽ không còn nhớ đến anh ta nữa, nếu như nhà nhiếp ảnh đó hoàn toàn ngẫu nhiên “chộp” được bức ảnh quý giá, mà vốn sống, kinh nghiệm, tay nghề cũng như kiến thức chưa đầy đủ tương xứng. Ngược lại, tay nghề lão luyện, ý tưởng nghệ thuật cao siêu, trong trường hợp ngẫu nhiên, họ dễ dàng xử lý hậu quả, giữ lại khoảnh khắc hiếm hoi điển hình quan trọng đối với những ai bước vào con đường sáng tạo nhiếp ảnh .

Một khi có tư tưởng vững vàng, đầu óc nhạy bén, nắm vững kỹ thuật, nhưng máy móc yếu kém sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nghệ thuật của tác phẩm.

Song cần phải khẳng định rằng: phương tiện máy móc kỹ thuật đối với nhà nhiếp ảnh là yếu tố quan trọng nhưng không phải là yếu tố quyết định thành bại của tác phẩm. Bởi sự thành công của bức ảnh liên quan nhiều yếu tố, trong đó tư duy sáng tạo của tác giả là tác nhân chính tạo ra tác phẩm có giá trị cao về nội dung và hình thức.

Qua sự phân tích trên cho thấy, để có được một bức ảnh trước hết là do công lao của các nhà phát minh, sáng chế, các nhà khoa học, kỹ thuật. Các nhà nhiếp ảnh đã thừa hưởng thành tựu kỹ thuật đó, để thể hiện tài năng, trí tuệ ý đồ nghệ thuật của mình. Như vậy lao động của nhà nhiếp ảnh là lao động nghệ thuật, lao động sáng tạo. Chính họ là người sáng tạo ra tác phẩm. Nhà lý luận nghệ thuật Nga Kagal cho rằng: “Tấm ảnh là sản phẩm của nhà chế tạo phim ảnh. Công việc của nhà nghệ sĩ nhiếp ảnh nằm trên tấm ảnh đó và cái công việc đó mới được gọi là tác phẩm”.

Tuy vậy trong một tác phẩm ảnh khó có thể tách bạch yếu tố kỹ thuật và khả năng sáng tạo. Bởi bức ảnh được “vẽ” bằng ánh sáng, cái mà con người nhìn thấy được chính là các tông mầu, đường nét do các muối bạc bắt sáng (ảnh đen trắng) và các hạt màu (ảnh màu) hình thành nên. Để có những tông màu, đường nét, mảng khối... tạo nên tấm ảnh phải xử lý bằng những quy trình kỹ thuật thích hợp. Vì thế nhà nhiếp ảnh phải nắm rất vững các khâu kỹ thuật: quang học, hóa học, điện tử và giờ đây là kỹ thuật số. Có nắm được những kiến thức cơ bản đó mới có khả năng sử dụng thành thạo các loại thiết bị, để diễn đạt được ý tưởng của tác phẩm.

Đối với nhiếp ảnh, kỹ thuật là phương tiện giúp cho nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm làm thăng hoa tư duy hình tượng. Cũng giống như hội họa, nhà hoạ sĩ phải nắm được mẫu phẩm (mầu gì?) mới thể hiện được ý đồ nghệ thụât và nội dung bức tranh. Nhạc sĩ phải biết các loại nhạc cụ  (bộ gõ, bộ dây, bộ hơi...) mới sáng tạo ra được bản giao hưởng...

Như vậy, bất luận loại hình nghệ thuật nào: hội họa, âm nhạc, kiến trúc... cũng như nhiếp ảnh đều có một điểm chung rằng: sự sáng tạo nghệ thuật là một quá trình tư duy hình tượng lâu dài bao gồm cả tinh thần và vật chất. Tư duy hình tượng về mặt vật chất tức là suy xét xem cần sử dụng phương pháp kỹ thuật nào để xử lý vật chất một cách có hiệu quả nhất nhằm xây dựng thành công hình thức nghệ thuật cho tác phẩm. Do đó trong mỗi ngành nghệ thuật không thể dùng cố định một phương tiện kỹ thuật cụ thể nào. Nhưng trong mọi trường hợp, mọi hoạt động sáng tác nghệ thuật đều có sẵn một kỹ thuật thể hiện tư tưởng nghệ thuật của mình bằng vật chất, chỉ có khác nhau về mức độ phức tạp nhiều hay ít mà thôi. Trên quan điểm đó, việc nghệ thuật nhiếp ảnh dử dụng kỹ thuật để hoàn thành tác phẩm là đều tất nhiên.

Nhiếp ảnh là bộ môn nghệ thuật tiếp thu và thừa hưởng rất nhiều thành tựu của khoa học kỹ thuật tiên tiến. Vì vậy những ai muốn thăng tiến trên con đường nghệ thuật nhiếp ảnh, cần phải nắm chắc các phương tiện kỹ thuật, làm chủ được nó trong mọi hoàn cảnh.

Trong nghệ thuật nhiếp ảnh có nhiều hiệu ứng kỹ thuật như tinh giản sắc độ (posterize), ảnh nổi (bas-relief), ảnh bán âm (solarite)... (ngày nay trong các bộ lọc của photoshop, dễ dàng làm những hiệu ứng này). Muốn làm được các hiệu ứng này, đòi hỏi nhà nhiếp ảnh phải học, tìm hiểu kỹ lưỡng kỹ thuật, đặc biệt phải có kinh nghiệm, tay nghề lão luyện. Nhưng cần phải nói rằng, với những hiệu ứng kỹ thuật này, bức ảnh không còn nguyên vẹn hình ảnh ban đầu, tính trung thực của tác phẩm không còn... Người ta gọi nó là “ảnh đồ họa”. Loại ảnh này sẽ phát huy hiệu quả, nếu được ứng dụng thích hợp cho từng đề tài. Thí dụ: diễn tả sự mảnh mai, nhẹ nhàng, đầy gợi cảm một thân hình thiếu nữ kiều diễm, người ta sử dụng kỹ thụât mờ ảo (lowkey) hay diễn tả sự khoẻ khoắn chắc nịch của anh công nhân lao động có thể dùng sắc độ đậm (highkey) hoạc cảnh cây cối, đường sá ta dùng kỹ thuật bán âm... sẽ mang đến cho người xem cảm giác lạ. Đối với ảnh thời sự, sự kiện... sử dụng các hiệu ứng kỹ thuật là điều cấm kỵ, làm mất tính hiện thực của tác phẩm.

Trong nhiếp ảnh nghệ thuật, công chúng luôn luôn nhiệt tình chào đón và hoan nghênh những tác phẩm được thể hiện dưới những góc độ lạ, những sáng tạo trong bố cục, màu sức, ánh sáng... đồng thời họ cũng mong muốn, trong những điều kiện có thể sử dụng tối đa các hiệu ứng kỹ thuật (đặc biệt kỹ thuật số), nhằm tạo ra những tác phẩm mang ý tưởng sâu sắc như tác phẩm “Đất mẹ” (đứa trẻ ôn quả địa cầu); “Thảm họa” (đứa trẻ đang gào thét trước một cánh rừng đang cháy)... Nhưng công chúng cực lực phản đối lạm dụng kỹ thuật số để làm méo mó hiện thực cuộc sống vốn có của nó.

Nhiếp ảnh thuộc phạm trù nghệ thuật, được sinh ra từ kỹ thụât, Nó là loại hình nghệ thụât có đầy đủ khả năng ghi lại thế giới hiện thực một cách đầy đủ, nhanh nhạy nhất thông qua tương quan ánh sáng, mầu sắc. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng không một loại hình nghệ thuật nào mà ở đó, người nghệ sĩ không bị hạn chế bởi những yếu tố khách quan như đặc tính vật liệu, kỹ thuật, phương pháp sáng tác của loại hình nghệ thuật đó. Về mặt này, nghệ thuật nhiếp ảnh không có một ngoại lệ nào trong thế giới nghệ thuật.

Mạnh Thường
 

Tác giả bài viết: NHSQNAM

Nguồn tin: vapa.org.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây